Bootstrap

SÁCH LU-CA

Bible Commentary / Produced by TOW Project and Partners
Luke bible commentary

GIỚI THIỆU SÁCH LU-CA

Back to Table of Contents Back to Table of Contents

Sách Tin Lành Lu-ca công bố Chúa Giê-xu là vị vua đến thế gian. Ngài được Đức Chúa Trời ban quyền cai trị để chỉnh sửa lại mọi sai trật đã xảy ra sau khi tổ phụ loài người là A-đam và Ê-va phản nghịch Đức Chúa Trời và sa ngã. Hiện tại, thế giới đa phần bị cai trị bởi thế lực chống nghịch với thẩm quyền của Đức Chúa Trời. Dầu vậy, thế giới này vẫn là vương quốc của Đức Chúa Trời, và những điều bình thường xảy ra hằng ngày, trong đó có công việc, cũng thuộc về vương quốc của Ngài. Đức Chúa Trời quan tâm sâu sắc đến cách quản trị, tính hiệu quả, vấn đề công bằng và văn hóa trong thế giới của Ngài.

Chúa Giê-xu vừa là vua vừa là gương mẫu cho tất cả những người nắm giữ quyền lực. Mặc dù Cơ Đốc Nhân quen với việc xưng Chúa Giê-xu là “vua”, nhưng đối với nhiều người, có vẻ như danh hiệu này chủ yếu thể hiện sự sùng bái hơn là nói đến quyền cai trị trên một vương quốc thật sự. Chúng ta nói Chúa Giê-xu là vua, nhưng thường hiểu theo nghĩa Ngài đứng đầu hàng giáo phẩm hoặc xem Ngài như người sáng lập tôn giáo. Nhưng Lu-ca cho biết Chúa Giê-xu là Đấng thiết lập lại vương quốc của Đức Chúa Trời trên đất. Khi Chúa Giê-xu hiện diện trong thân xác con người, ngay cả Sa-tan và những thuộc hạ của nó cũng nhận biết quyền cai trị của Ngài (xem Lu-ca 8:32); quyền năng của Chúa Giê-xu là điều không thể phủ nhận. Sau khi Chúa Giê-xu về trời, chúng ta là các công dân của vương quốc Đức Chúa Trời dựa theo khuôn mẫu của Ngài để thực thi quyền lực.

Vai trò lãnh đạo của Chúa Giê-xu ảnh hưởng đến mọi khía cạnh của cuộc sống. Do đó, không ngạc nhiên khi sách Tin Lành Lu-ca có nhiều áp dụng liên quan đến công việc. Lu-ca rất quan tâm đến những chủ đề liên quan đến công việc. Chúng ta sẽ cùng thảo luận các chủ đề này như sự giàu có và quyền lực, kinh tế, công tác quản trị, sự xung đột, công tác lãnh đạo, năng suất công việc, sự chu cấp và chuyện đầu tư. Chúng ta sẽ cố gắng nghiên cứu theo trình tự của bản văn sách Lu-ca, mặc dù thỉnh thoảng cũng lấy vài phân đoạn ra khỏi trình tự để có thể xem xét chúng chung với những đoạn khác có cùng chủ đề. Chúng ta sẽ không thảo luận những phân đoạn không liên quan nhiều đến công việc, người làm việc và nơi làm việc.

Ngày Làm Việc Đầy Kinh Ngạc của Xa-cha-ri (Lu 1:8-25)

Back to Table of Contents Back to Table of Contents

Sách Tin Lành Lu-ca bắt đầu tại nơi công sở và tiếp tục câu chuyện lịch sử dài về sự xuất hiện của Đức Giê-hô-va tại nơi làm việc (ví dụ: Sáng 2:19-20; Xuất 3:1-5). Thiên sứ Gáp-ri-ên đã viếng thăm Xa-cha-ri vào ngày làm việc quan trọng nhất đời ông - ngày ông được chọn để hành lễ trong nơi chí thánh của đền thờ Giê-ru-sa-lem (Lu 1:8). Chúng ta không quen với suy nghĩ đền thờ là nơi làm việc, nhưng tại nơi đó, các thầy tế lễ và người Lê-vi đã tham dự vào việc giết mổ các con thú dâng làm của lễ, nấu nướng, trông nom, dọn dẹp, tính toán và nhiều hoạt động khác. Đền thờ không chỉ đơn thuần là một trung tâm tôn giáo, mà còn là trung tâm kinh tế và xã hội của người Do Thái. Xa-cha-ri đã chịu tác động rất mạnh mẽ bởi cuộc gặp gỡ với Đức Giê-hô-va đến nỗi ông không thể nói cho đến khi ông làm chứng về sự chân thật của Lời Chúa.

Người Chăn Nhân Lành Đến Giữa Những Người Chăn (Lu 2:8-20)

Back to Table of Contents Back to Table of Contents

Cuộc gặp gỡ thứ hai tại nơi công sở diễn ra cách đền thờ vài dặm. Một nhóm người chăn đang thức đêm giữ bầy thì được một đoàn thiên sứ viếng thăm, loan báo sự ra đời của Chúa Giê-xu (Lu 2:9). Người chăn chiên thường bị coi là thành phần bất hảo, bị xã hội xem thường nhưng Đức Chúa Trời đoái xem họ với ân sủng. Cũng giống như thầy tế lễ Xa-cha-ri, những người chăn chiên đã bị Chúa làm gián đoạn công việc thường ngày bằng một phương cách hết sức bất ngờ. Luca mô tả một thực tế đó là việc gặp gỡ Chúa không chỉ dành riêng cho ngày chúa nhật, ngày bồi linh hay những chuyến công tác mục vụ. Thay vào đó, mỗi thời khắc đều chứa đựng cơ hội Chúa bày tỏ chính mình. Sự áp lực và sự đơn điệu của công việc hằng ngày có thể làm tâm linh của chúng ta chai lì, mất cảm giác, giống như những người sống cùng thời với Lót đã để cho thói quen “ăn uống, mua bán, trồng trọt và xây cất” làm mờ mắt, khiến họ không thấy được sự đoán phạt sắp xảy ra cho thành phố mà họ đang sống (Lu 17:28-30).[1] Nhưng Đức Chúa Trời có thể đem sự tốt lành và vinh hiển của Ngài vào giữa nhịp sống thường ngày của chúng ta.

Bản Mô Tả Công Việc Của Chúa Giê-Xu: Làm Vua (Lu 1:26-56, 4:14-22)

Back to Table of Contents Back to Table of Contents
TẠO VIỆC LÀM Ở NƠI KHÔNG CÓ

Albert Black đã để tâm quan sát việc Đức Chúa Trời “thình lình can thiệp vào” công việc của ông. Ông bắt đầu kinh doanh tại khu phố nơi ông lớn lên bởi vì có quá nhiều người không có việc làm. Ông tin rằng mọi người cần việc làm. Công ty của Albert tên là On Target Supplies and Logistics, phân phối mọi thứ cho mọi người đúng lúc họ cần.

BÀI PHỎNG VẤN

HATTIE: Xin chào, tôi là HATTIE Bryant. Chương trình hôm nay là một ví dụ về chiến lược nhân lực đầy sáng tạo được triển khai bởi các chủ doanh nghiệp nhỏ trong vùng. Các doanh nghiệp nhỏ này đều phải tự triển khai chiến lược nhân sự vì không đủ lớn để thuê một nhân viên chuyên lo về mảng nhân lực. Những ông chủ doanh nghiệp hiểu rằng không thể nhét nhân viên vào những chỗ làm việc chật chội rồi để mặc họ làm sao thì làm. Cuộc đời con người không thể bị tách rời thành hai ngăn: ngăn công việc và ngăn cá nhân, còn ông chủ thì chẳng để ý gì đến đời sống cá nhân của nhân viên. Trong hàng trăm trường hợp mà chúng tôi đã nghiên cứu, chúng tôi đã được tiếp xúc với những ông chủ là những người nhận thấy vai trò của mình không chỉ là một CEO (giám đốc điều hành)
nhưng còn là huấn luyện viên, là người cố vấn, là giáo viên, là cha là mẹ, và là người hướng dẫn cho những nhân viên của họ. Bạn muốn phát triển công việc kinh doanh của mình? Hãy học từ một thiên tài. Một người thật sự biết cách giúp những người đồng hành với mình trong công việc có môi trường tốt nhất để thể hiện khả năng
trong họ.

HATTIE (thuyết minh): Albert Black là một nhà kinh doanh, ông tự mình gây dựng gia sản. Sinh ra trong gia đình bảy người con, gia đình Albert sống trong khu phố được chính phủ trợ cấp. Ông đã bắt đầu công việc kinh doanh đầu tiên khi mới được tám tuổi. Và ngày nay ông đã biến ước mơ của mình thành hiện thực.

ALBERT BLACK: Việc kinh doanh của tôi đã bắt đầu ngay tại Frasier Courts. Tôi nhớ mình đã từng đi thuê một máy cắt cỏ và gõ cửa từng nhà hỏi mời cắt cỏ với giá 50 xu. Những gì tôi làm hiện tại thì cha tôi đã nói với tôi khi tôi mới 8 tuổi. Cha tôi là một người lịch thiệp, hay giúp đỡ người khác. Ông làm gác cổng và khuân vác hành lý tại một
khách sạn. Chính nhờ làm gác cổng nên ông quen biết một số lãnh đạo doanh nghiệp của Dallas. Sau này, khi không còn làm công việc đó nữa, ông nói tôi hãy trở thành nhà kinh doanh và lãnh đạo doanh nghiệp.

HATTIE: (thuyết minh) Albert đã sáng lập On Target Supplies and Logistics vào năm 1982, và giờ đây ông thuê 114 người, doanh thu của công ty là 10,2 triệu đô-la. Công ty của ông cung cấp giấy phô-tô, giấy máy in và hiện tại công ty cũng cung cấp dịch vụ quản lý kho hàng. Danh sách khách hàng của công ty là những doanh nghiệp lớn
ở vùng Dallas như: EDS, Texas Instruments, Southwestern Bell, Texas Utilities, American Airlines và Verizon.

HATTIE: Ông đã có được khách hàng đầu tiên như thế nào?

ALBERT: Chúng tôi đã đi lang thang khắp nơi, thật sự là lang thang đấy! Chúng tôi lang thang trên đường phố khắp Dallas, những con hẻm nhỏ, bất cứ nơi đâu có khách hàng. Lý do tôi bước vào công việc kinh doanh cũng chính là lý do tôi tiếp tục kinh doanh trong hiện tại. Chúng tôi muốn tạo việc làm và thuê nhân công. Chúng tôi xem đó
là việc Chúa làm và chúng tôi muốn được dự phần. Chúng tôi cũng muốn cải thiện cơ sở hạ tầng trong khu vực nội thành của các thành phố mà chúng tôi đang kinh doanh. Chúng tôi trả lương, thưởng hậu hĩnh cho nhân viên.

ALBERT: Với công việc cung cấp dịch vụ kho hàng và phân phối hàng hóa, trung bình thu nhập của một nhân viên ở On Target là 29.800 đô-la. Chúng tôi đã tạo việc làm ở các khu phố có nhiều người phải sống bằng trợ cấp từ tiền thuế và giúp họ trở thành những người có thu nhập và góp phần đóng thuế. Đây vốn là một tòa nhà bị bỏ hoang
trong khu ổ chuột, trước đây nó y như khu nhà bên kia đường. Chúng tôi cũng thuê một trung tâm cũ nát và biến nó thành một trung tâm thương mại.

HATTIE: Ô, Cách làm việc thật hiệu quả!

HATTIE (thuyết minh): Albert đã thành lập công ty On Target không lâu sau khi tốt nghiệp đại học, nhưng vì không có đủ vốn nên cả hai vợ chồng ông đều phải kiếm việc làm thêm để hỗ trợ cho việc kinh doanh.

ALBERT: Tôi đã phải tìm một việc làm thêm. Tôi làm việc vào buổi tối. Nhưng tôi đặt ra mục tiêu cho công việc này. Mục tiêu làm thêm của tôi không chỉ để kiếm thêm thu nhập, nhưng là để học thêm các kỹ năng, năng lực quản lý, là những điều mà tôi có thể áp dụng cho công ty của tôi và giúp nó hoạt động hiệu quả hơn. Texas Utilities đã cho
phép tôi làm việc ở bộ phận máy tính của họ. Tôi đã quản lý hệ thống thông tin. Tôi quản lý công tác phát triển kỹ thuật. Tôi chăm sóc khách hàng ở mảng kỹ thuật.

HATTIE: Đó là việc ông làm vào buổi tối phải không?

ALBERT: Vâng, buổi tối, từ 5:00 chiều đến 1:00 sáng.

HATTIE: Vậy ông đến đây lúc...

ALBERT: Và tôi vẫn phải tiếp tục làm việc lúc 7:00 giờ sáng.

HATTIE: Ông đã ở đây từ 7 giờ sáng đến 5 giờ chiều, rồi sau đó đã tiếp tục làm thêm để kiếm tiền - kiếm vốn. Ông đã làm như vậy trong bao nhiêu tháng hay bao nhiêu năm?

ALBERT: 10 năm.

Cách Đức Chúa Trời công bố kế hoạch cứu chuộc thế giới trong bối cảnh tại hai nơi làm việc thật kỳ lạ; nhưng cách Ngài giới thiệu Chúa Giê-xu với một bản mô tả công việc lại càng lạ lùng hơn khi thiên sứ Gáp-ri-ên hiện đến báo cho Mari biết nàng sẽ sinh một con trai. “Con trai ấy sẽ được tôn trọng, được gọi là Con của Đấng Chí Cao. Chúa là Đức Chúa Trời sẽ ban cho Ngài ngôi Đa-vít, tổ phụ Ngài. Ngài sẽ trị vì đời đời nhà Gia-cốp; vương quốc Ngài mãi mãi trường tồn” (Lu 1:32-33).

Có thể chúng ta không quen với suy nghĩ công việc của Chúa Giê-xu là “vua dân Y-sơ-ra-ên”, nhưng theo sách Tin Lành Lu-ca thì đó chính là công việc của Ngài. Lu-ca cũng cho chúng ta biết chi tiết về công tác làm vua của Chúa Giê-xu: thi hành những việc quyền năng, đánh đuổi kẻ kiêu ngạo, truất ngôi những kẻ thống trị, cất nhắc những người khiêm nhường, cho người đói được đầy thức ngon, đuổi kẻ giàu về tay không, giúp đỡ Y-sơ-ra-ên là đầy tớ Ngài, và nhớ lại sự thương xót của Ngài với Áp-ra-ham và dòng dõi người đến muôn đời (Lu 1:51-55). Những câu Kinh Thánh nổi tiếng này thường được gọi là Magnificat - Bài Ca Ngợi của Ma-ri, khắc họa Chúa Giê-xu như một vị vua thực thi quyền lực kinh tế, chính trị và cả quân sự. Không giống những vị vua của thế giới tội lỗi, Chúa Giê-xu dùng quyền lực của vị vua để đem phúc lợi cho những thần dân cô thế, bị thiệt thòi nhất của mình. Chúa Giê-xu không tìm hậu thuẫn từ những người có thế lực hay có quan hệ rộng để giúp chống đỡ cho vương triều của Ngài. Chúa Giê-xu không đàn áp dân chúng hay bắt họ đóng thuế nhằm phục vụ cho những thói quen xa xỉ. Ngài thiết lập vương quốc được sự cai trị bởi sự chính trực, ở đó mọi người được hưởng hoa lợi từ đất đai, người thuộc về Chúa được nhận lãnh sự bình an và những ai ăn năn hối cải được thương xót. Ngài là một vị vua mà Y-sơ-ra-ên chưa bao giờ có.

Về sau, Chúa Giê-xu xác nhận bản mô tả công việc này khi áp dụng Ê-sai 61:1-2 cho chính mình: “Thần của Chúa Giê-hô-va ngự trên Ta, vì Đức Giê-hô-va đã xức dầu cho Ta để giảng tin lành cho người nghèo. Ngài sai Ta đến để rịt lành những tấm lòng tan vỡ; để công bố tự do cho kẻ bị bắt giữ, và cho những người bị cầm tù được ra khỏi ngục; để công bố năm thi ân của Đức Giê-hô-va” (Lu 4:18-19). Đây là nhiệm vụ về chính trị và hành chính. Vì thế, ít ra trong sách Lu-ca, công
việc của Chúa Giê-xu liên hệ gần với việc chính trị hơn là tôn giáo hay là mục vụ.[1] Chúa Giê-xu rất tôn trọng các thầy tế lễ và vai trò đặc biệt của họ theo sự sắp đặt của Đức Chúa Trời, nhưng Ngài không xem đó là vị thế hay công tác chính của mình (Lu 5:14; 17:14). Những nhiệm vụ mà Chúa Giê-xu thực hiện mang ích lợi đến cho những người có nhu cầu. Không giống như những người cầm quyền của thế giới sa ngã này, Ngài cai trị vì lợi ích của người nghèo, của người tù tội, người mù lòa, người bị áp bức, và người rơi vào nợ nần (đất đai, tài sản họ đã thế chấp sẽ được trả lại trong năm ân sủng của Chúa; xem Lê 25:8-13). Mối quan tâm của Chúa Giê-xu không chỉ dành cho những người tuyệt vọng, trong những phần sau chúng ta sẽ thấy Ngài còn quan tâm đến mọi người trong mọi điều kiện và hoàn cảnh. Sự quan tâm của Chúa Giê-xu dành cho người nghèo, kẻ khốn khổ và bất lực cho thấy sự khác biệt rõ rệt giữa Ngài với những người cầm quyền, là những kẻ mà Chúa Giêxu đến để thay thế.

GIĂNG BÁP-TÍT DẠY ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP (LU 3:8-14)

Back to Table of Contents Back to Table of Contents

Sự dạy dỗ đầu tiên trong sách Lu-ca đề cập trực tiếp về công việc là của Giăng Báp-tít. Giăng khuyên những thính giả của mình “hãy kết quả xứng đáng với sự ăn năn” (Lu 3:8) để không phải đối diện với sự đoán phạt. Khi họ hỏi cụ thể “Chúng tôi nên làm gì?” (Lu 3:10,12,14), thì câu trả lời của Giăng lại liên quan đến vấn đề kinh tế chứ không phải tôn giáo. Trước tiên, ông nói ai có nhiều tài sản (hai cái áo hay đồ ăn dư dật) hãy cho những người không có (Lu 3:10). Rồi ông đưa ra lời chỉ dẫn liên quan trực tiếp đến công việc của những người thu thuế và người lính. Những người thu thuế chỉ nên thu theo mức thuế đã định, không tự thêm số tiền thuế và bỏ vào túi phần chênh lệch. Người lính thì không nên dùng quyền để bòn rút tiền của dân hay buộc tội người khác cách oan sai. Họ nên bằng lòng với đồng lương của mình (Lu 3:13-14).

Khi Giăng nói với những người thu thuế “Đừng thu quá mức qui định” (Lu 3:13), thì đó là lời khuyên rất quyết liệt đối với những người làm nghề đầy tai tiếng có bản chất bóc lột và bất công cách có hệ thống. Tiền thuế trong xứ Pa-lét-tin được thu cách tập trung qua một hệ thống đấu thầu quyền thu thuế mà tổng đốc và các viên chức cấp cao đã lợi dụng để trục lợi cho bản thân.[1] Để có được quyền thu thuế, người trúng thầu phải nộp cho viên chức chính quyền một khoản tiền cao hơn mức thuế thực tế mà chính quyền Rô-ma quy định. Sau đó đến lượt người thu thuế trục lợi cho họ bằng cách áp đặt trên dân chúng mức thuế cao hơn mức họ đã trả cho các quan chức để “mua” quyền thu thuế. Vì người dân không có cách nào để biết chính xác mức thuế thực tế của chính quyền Rô-ma, do đó họ phải đóng thuế theo hạn mức mà người thu thuế ấn định. Người làm nghề thu thuế rất khó để chống lại cám dỗ làm giàu cho bản thân, và họ hầu như không thể nào thắng thầu, có được quyền thu thuế nếu không chấp nhận trả trước một khoản tiền lớn cho quan chức chính quyền.

Điều cần lưu ý là Giăng không khuyên những người thu thuế từ bỏ công việc thu thuế. Với những người Lu-ca gọi là “binh lính”, Giăng cũng không khuyên họ từ bỏ công việc của mình. Có lẽ những người này không phải là binh lính tuân thủ kỹ luật trong quân đội Rô-ma, nhưng là quân lính của vua Hê-rốt. Hê-rốt là vua chư hầu của đế quốc Rô-ma cai trị xứ Ga-li-lê lúc bấy giờ. Quân lính của Hê-rốt có thể đã sử dụng quyền lực của mình để dọa nạt, tống tiền và bảo vệ lợi ích cá nhân.[2]

Chỉ dẫn của Giăng cho những người làm công việc này là hãy mang sự công bằng vào một hệ thống vốn đầy dẫy sự bất công. Chúng ta không thể xem thường những khó khăn họ sẽ đối diện khi thực hiện lời khuyên của Giăng. Vô cùng nguy hiểm và đầy khó khăn khi là công dân nước Trời sống dưới sự cai trị của vua chúa thế giới tội lỗi này.

CHÚA GIÊ-XU BỊ CÁM DỖ TỪ BỎ CÔNG TÁC HẦU VIỆC ĐỨC CHÚA TRỜI (LU 4:1-13)

Back to Table of Contents Back to Table of Contents

Ngay trước khi Chúa Giê-xu bắt đầu công việc của một vị vua thì Sa-tan cám dỗ Ngài từ bỏ lòng trung thành với Đức Chúa Trời. Chúa Giê-xu đi vào đồng vắng, ở đó Ngài kiêng ăn trong 40 ngày (Lu 4:2). Sau đó, Chúa Giê-xu đối diện với những cám dỗ tương tự như dân Y-sơ-ra-ên đã đối diện trong đồng vắng Si-nai.[1] Trước tiên, Ngài bị cám dỗ cậy sức riêng để đáp ứng nhu cầu của bản thân, thay vì nương cậy vào sự chu cấp của Đức Chúa Trời (Lu 4:1-3; Phục 8:3,17-20). “Nếu ngươi là Con Đức Chúa Trời hãy khiến đá này thành bánh” (Lu 4:3). Kế đó, Chúa Giê-xu bị cám dỗ thay đổi lòng trung thành của mình với Đức Chúa Trời mà hướng về một đối tượng khác là Sa-tan. Sa-tan cám dỗ Ngài dùng phương cách dường như dễ dàng, nhanh chóng hơn để đạt được quyền lực và sự vinh hiển (Lu 4:5-8; Phục 6:13; 71-26). “Nếu ngươi thờ lạy ta, tất cả thế gian này sẽ là của ngươi.” Thứ ba, Chúa Giê-xu bị cám dỗ nghi ngờ liệu Đức Chúa Trời có thật sự ở với Ngài không, rồi tìm cách khiến Đức Chúa Trời phải hành động (Lu 4:9-12; Phục 6:16-25). “Nếu ngươi là con Đức Chúa Trời hãy từ đây gieo mình xuống đi” (từ đền thờ). Không giống như dân Y-sơ-ra-ên, Chúa Giê-xu chống lại những cám dỗ này bằng cách tin cậy vào Lời của Đức Chúa Trời. Hai con người đầu tiên, A-đam và Ê-va đã phạm tội khi bị cám dỗ, Y-sơ-ra-ên dân tộc được Đức Chúa Trời tuyển chọn cũng không tốt hơn. Chỉ có Chúa Giê-xu là hình mẫu nhân loại hoàn hảo theo đúng ý định ban đầu của Đức Chúa Trời khi Ngài dựng nên loài người.

Những cám dỗ này không phải chỉ xảy đến cho Chúa Giê-xu, dân Y-sơ-ra-ên cũng đã đối diện với những cám dỗ tương tự trong Phục truyền Luật lệ Ký 6-8. Chúa Giê-xu cũng đã phải đối diện với nhiều cám dỗ chẳng khác gì chúng ta. “Vì chúng ta không có một thầy tế lễ thượng phẩm chẳng có thể cảm thông sự yếu đuối chúng ta, nhưng có một thầy tế lễ bị cám dỗ đủ mọi cách như chúng ta, song chẳng phạm tội” (Hê 4:15). Giống như Y-sơ-ra-ên và Chúa Giê-xu, chúng ta cũng sẽ bị cám dỗ, trong công việc và trong cuộc sống.

Làm việc chỉ để đáp ứng nhu cầu bản thân là cám dỗ rất lớn. Chúng ta làm việc là để đáp ứng nhu cầu của bản thân (2 Tê 3:10), nhưng không chỉ để đáp ứng nhu cầu của bản thân mà thôi. Công việc cũng nhằm mục đích phục vụ người khác nữa. Không giống như Chúa Giê-xu, chúng ta không bị cám dỗ sử dụng phép lạ để phục vụ nhu cầu bản thân. Nhưng chúng ta có thể bị cám dỗ làm việc chỉ vì tiền lương, bị cám dỗ bỏ công việc ngay khi gặp khó khăn, bị cám dỗ tránh né, không chia sẻ trách nhiệm công việc với người khác, hay để mặc người khác nhận lãnh những hậu quả phát sinh từ việc làm bê bối của chúng ta. Trong công việc cám dỗ chọn lối tắt, nhanh chóng, dễ dàng hơn cũng rất lớn.

Nghi ngờ sự hiện diện và quyền năng của Đức Chúa Trời trong công việc của mình có thể là cám dỗ lớn nhất trong các cám dỗ trên. Chúa Giê-xu đã bị cám dỗ để thử Đức Chúa Trời bằng việc ép buộc Ngài phải hành động. Chúng ta làm điều tương tự khi chúng ta có thái độ lười biếng hay dại dột mà trông đợi Chúa lo liệu cho chúng ta. Thỉnh thoảng, điều này xảy ra khi ai đó cho rằng Chúa đã kêu gọi mình vào một vị trí hay nghề nghiệp nào đó, nhưng cứ thụ động, không làm gì cả mà đợi Chúa khiến điều đó xảy ra. Nhưng có lẽ chúng ta dễ bị cám dỗ khước từ sự hiện diện và quyền năng của Đức Chúa Trời trong công việc của mình. Chúng ta có thể nghĩ công việc của mình chẳng có giá trị gì với Chúa hay chúng ta có thể nghĩ Chúa chỉ quan tâm đến những sinh hoạt trong nhà thờ của chúng ta mà thôi. Những suy nghĩ này có thể khiến chúng ta không thể xin Chúa hiện diện và giúp đỡ chúng ta trong những công việc bình thường mỗi ngày. Chúa Giê-xu trông đợi Đức Chúa Trời dự phần vào công việc mỗi ngày, nhưng Chúa Giê-xu không đòi hỏi Đức Chúa Trời phải thay Ngài làm việc.

Toàn bộ câu chuyện bắt đầu bằng việc Thánh Linh dẫn Chúa Giê-xu vào đồng vắng để kiêng ăn 40 ngày. Thời đó, cũng như ngày nay, kiêng ăn và tham dự các chuyến bồi linh là cách đến gần Chúa trước khi bắt đầu một thay đổi quan trọng trong cuộc sống. Chúa Giê-xu sắp bắt đầu công tác làm vua, và Ngài muốn nhận lấy năng quyền, sự khôn ngoan và sự hiện diện của Đức Chúa Trời trước khi bắt đầu. Đó là cách Ngài đã làm. Khi Sa-tan cám dỗ Chúa Giê-xu, Ngài đã dành 40 ngày tâm giao với Đức Chúa Trời. Ngài đã chuẩn bị đầy đủ để chống lại Sa-tan. Tuy nhiên, việc kiêng ăn cũng khiến những cám dỗ đến với Chúa Giê-xu mạnh mẽ hơn. “Ngài bị đói” (Lu 4:2). Cám dỗ thường đến với chúng ta nhanh hơn chúng ta tưởng, thậm chí ngay từ lúc chúng ta mới bắt đầu đi làm. Chúng ta có thể bị cám dỗ tham dự vào kế hoạch làm giàu nhanh chóng thay vì bắt đầu từ vị trí thấp nhất trong một công việc hay nghề nghiệp thật sự hữu ích. Chúng ta sẽ phải đối diện với những yếu đuối của bản thân, bị cám dỗ để bù đắp cho những yếu đuối đó bằng cách gian lận, bắt nạt hay dối gạt ai đó. Có lẽ chúng ta cho rằng với những kỹ năng hiện có, chúng ta không thể tìm được công việc như ý, vì thế chúng ta bị cám dỗ thể hiện không đúng về bản thân hoặc gian dối khai nhận những khả năng chuyên môn mình không có hoặc chưa đạt đến. Chúng ta có thể chọn một vị trí có lợi nhưng không thỏa lòng với ảo tưởng “chỉ làm vài năm thôi, đến khi ổn định thì” sẽ kiếm việc gì đó phù hợp hơn với sự kêu gọi của mình.

Chuẩn bị là chìa khóa để chiến thắng cám dỗ. Cám dỗ thường đến mà không hề báo trước. Người chủ, cấp trên của bạn có thể bắt bạn làm báo cáo khống. Bạn có thể sẽ được tiết lộ thông tin mật (về việc kinh doanh của công ty) trước khi thông tin đó công bố rộng rãi cho công chúng. Một cánh cửa quên khóa sẽ đem đến một cơ hội không trông đợi để lấy những thứ không thuộc về mình mà không ai biết. Áp lực để hùa theo đồng nghiệp đồn thổi, bàn tán về một đồng nghiệp khác có thể xảy đến bất ngờ trong bữa trưa. Cách chuẩn bị tốt nhất là hãy tưởng tượng tình huống có thể xảy ra, và cầu nguyện rồi lập kế hoạch để có cách phản ứng thích hợp, thậm chí bạn có thể viết xuống các tình huống có thể gặp cùng với cách phản ứng mà bạn cam kết với Chúa. Một cách khác nữa để giữ chính mình trước cám dỗ là có một nhóm những người biết rõ về bạn, mà bạn có thể gọi để thông báo vắn tắt và thảo luận về vấn đề bạn đang đối diện. Nếu cho họ biết trước, họ có thể giúp khi bạn gặp cám dỗ. Chúa Giê-xu cũng có cộng đồng của Ngài, đó là Ba Ngôi Đức Chúa Trời (nếu chúng ta có thể hiểu và chấp nhận cách mô tả này). Khi bị cám dỗ Chúa Giê-xu đã được sự hỗ trợ từ cộng đồng của mình, đó là mối tâm giao mật thiết với Đức Chúa Cha và quyền năng của Đức Thánh Linh.

Dù có những điểm tương đồng, những cám dỗ chúng ta đối diện không hoàn toàn giống với những cảm dỗ Chúa Giê-xu đã gặp. Ai cũng có những cám dỗ riêng, lớn và nhỏ, tùy thuộc vào hoàn cảnh và bản chất công việc của chúng ta. Không ai trong chúng ta là Con Đức Chúa Trời, nhưng cách của chúng ta đối diện với cám dỗ sẽ dẫn đến những hệ quả làm thay đổi cuộc sống chúng ta. Thử tưởng tượng hậu quả sẽ ra sao nếu Chúa Giê-xu từ bỏ sự kêu gọi làm Vua Trời và dùng cuộc đời để tìm kiếm sự xa hoa cho chính mình hay làm theo mệnh lệnh của ông chủ tội ác, hay thụ động không làm gì cả mà chờ Đức Chúa Cha làm thay cho Ngài.

CHÚA GIÊ-XU KÊU GỌI NHỮNG NGƯỜI ĐANG LÀM VIỆC (LU 5:1-11; 27-32)

Back to Table of Contents Back to Table of Contents

Có hai lần Chúa Giê-xu đến nơi làm việc và kêu gọi những người đang làm việc đi theo Ngài. Lần thứ nhất là khi Ngài làm gián đoạn công việc của những người đánh cá và sử dụng con thuyền của họ làm bục giảng. Sau đó, Chúa Giê-xu cho họ lời khuyên cách đánh cá rất hiệu quả rồi kêu gọi họ trở thành những môn đồ đầu tiên của Ngài (Lu 5:1-11). Lần thứ hai là khi Chúa Giê-xu kêu gọi Lê-vi, đang khi ông thu thuế (Lu 5:27-32). Những người này được Chúa Giê-xu kêu gọi theo Ngài bằng cách từ bỏ nghề nghiệp của mình. Chúng ta hay nghĩ về họ giống như những người làm việc trọn thời gian cho hội thánh, nhưng chính xác hơn họ là những “đại sứ” của Chúa trọn thời gian (2 Cô 5:20). Mặc dù những cá nhân này được kêu gọi thực hiện một công việc cụ thể trong vương quốc của Chúa Giê-xu, nhưng Lu-ca không nói rằng có sự kêu gọi cao quý (ví dụ: giảng dạy), và sự kêu gọi ít cao quý (ví dụ: đánh cá). Một số môn đồ như Phi-e-rơ, Giăng và Lê-vi, là những người từ bỏ công việc hiện tại để đi theo Chúa Giê-xu (Lu 5:11). Chúng ta sẽ sớm gặp những người như Ma-ri và Ma-thê (Lu 10:38-41), một người thu thuế khác tên là Xa-chê (Lu 19:1-10) và một sĩ quan quân đội Rô-ma (Lu 1-10). Họ là những người theo Chúa bằng cách sống cuộc đời của người được Chúa thay đổi ngay trong nghề nghiệp hiện tại của mình. Trong một trường hợp khác (Lu 8:26-39), Chúa Giê-xu lại yêu cầu người xin được theo Chúa trở về với gia đình, quê hương chứ không đi đây đó với Ngài.

Những người đi đó đây với Chúa Giê-xu không còn làm những công việc có thu nhập nữa và họ sống dựa vào sự dâng hiến (Lu 9:1-6; 10:1-24). Nhưng điều này không có nghĩa biểu hiện cao quý nhất của một người môn đồ là rời bỏ công việc mình đang làm. Đây là sự kêu gọi dành riêng cho những cá nhân cụ thể này và nhắc nhở mọi điều chúng ta có đều là sự ban cho của Đức Chúa Trời. Ngài chu cấp cho chúng ta bằng nhiều cách, thông thường là qua công việc chúng ta làm. Có nhiều khuôn mẫu, cách thức theo Chúa khác nhau trong bối cảnh của từng nghề nghiệp.[1]

Không chỉ xuất hiện tại nơi làm việc, Chúa Giê-xu cũng đặt nhiều ẩn dụ của Ngài trong bối cảnh của nơi làm việc như ẩn dụ về miếng vải/bầu da mới (Lu 5:36-39), người thợ xây khôn ngoan và người thợ xây dại dột (Lu 6:46-49), người gieo giống (Lu 8:4-15), người đầy tớ tỉnh thức (Lu 12:35-41), người đầy tớ xấu xa (Lu 12:42-47), hạt cải (Lu 13:18-19), men (Lu 13:20-21), chiên lạc mất (Lu 15:1-7), đồng tiền lạc mất (Lu 15:8-10), con trai hoang đàng (Lu 15:11-32) và những người trồng nho gian ác (Lu 20:9-19). Nơi làm việc là bối cảnh Chúa Giê-xu sử dụng để kể các câu chuyện ẩn dụ bắt đầu với cụm từ “Nước Đức Chúa Trời giống như…” Những phân đoạn Kinh Thánh này nhìn chung không dạy nhiều về nơi làm việc, mặc dù đôi khi cũng có một vài chỉ dẫn cho công việc hay cách làm việc. Chúa Giê-xu sử dụng những khía cạnh quen thuộc của nơi làm việc để đưa ra những điểm dạy dỗ về nước Trời, là điều vượt trên bối cảnh cụ thể của các ẩn dụ. Điều này cho thấy với Chúa Giê-xu công việc bình thường có giá trị và ý nghĩa quan trọng.

SỰ CHỮA LÀNH TRONG SÁCH LU-CA

Back to Table of Contents Back to Table of Contents

Trong thời của Chúa Giê-xu cũng như ngày nay, công tác y tế và việc chữa bệnh là cần thiết. Sách Lu-ca ghi lại mười ba câu chuyện kể việc Chúa Giê-xu chữa bệnh cho dân chúng: 4:31-37; 4:38-44; 5:12-16; 5:17-26; 7:1-10; 7:11-17; 7:21; 8:26-39; 8:40-56; 9:37-45; 13:10-17; 17:11-19; và 18:35-43. Khi Chúa Giê-xu chữa bệnh, Ngài ban sự lành mạnh cho những người đang bị đau đớn vì bệnh tật, đúng theo lời Ngài đã công bố về sứ mạng làm vua của mình. Ngoài ra, sự chữa lành còn bày tỏ một cách thực tế về nước Trời là nơi không có bệnh tật (Khải 21:4). Chúa Giê-xu không chỉ truyền lệnh cho con người làm việc vì lợi ích của người khác, mà Ngài còn thêm năng lực để con người thực hiện việc đó. Quyền năng của Đức Chúa Trời không chỉ giới hạn cho Chúa Giê-xu, trong hai phân đoạn Lu-ca 9:1-6 và 10:9, Chúa Giê-xu còn ban quyền năng chữa bệnh cho các môn đồ của Ngài. Tuy nhiên, tất cả mọi sự chữa lành đều dựa trên quyền năng của Đức Chúa Trời. Nhà thần học Jürgen Moltmann đã tóm tắt điều này một cách tuyệt vời. “Sự chữa lành của Chúa Giê-xu không phải là phép lạ siêu nhiên trong thế giới tự nhiên. Chúng chỉ là điều hết sức tự nhiên trong một thế giới trái tự nhiên, đã bị ma quỉ thống trị và bị thương tổn.”[1] Chữa lành là dấu hiệu minh chứng Đức Chúa Trời đang phục hồi thế giới trở lại đúng theo ý định ban đầu của Ngài.

Những sự chữa lành được ký thuật trong các sách Tin Lành đa số là phép lạ. Những cố gắng bình thường của Cơ Đốc Nhân trong việc hồi phục sức khỏe con người cũng có thể được xem là sự mở rộng của chức vụ mang lại sự sống của Chúa Giê-xu. Nếu không lưu ý đến tầm quan trọng của việc chữa lành trong công tác cứu chuộc của vương quốc Đức Chúa Trời sẽ là một thiếu sót. Công việc này được thực hiện hằng ngày bởi các bác sĩ, y tá, kỹ thuật viên, nhân viên chi trả bảo hiểm, những người phục vụ, giữ xe trong bệnh viện và nhiều người khác góp phần trong công tác khám chữa bệnh. Bản thân Lu-ca là một bác sĩ (Côl 4:14) nên chúng ta có thể tưởng tượng được sự quan tâm của ông đối với công tác chữa bệnh. Nhưng nếu xem việc chữa bệnh là sự kêu gọi cao cả hơn những nghề nghiệp khác là sai lầm.

NGÀY SA-BÁT VÀ CÔNG VIỆC (LU 6:1-11; 13:10-17)

Back to Table of Contents Back to Table of Contents

Ngày Sa-bát là một chủ đề được Chúa Giê-xu giảng dạy trong sách Tin Lành Lu-ca. Hiểu đúng ý nghĩa về ngày Sa-bát là một phần thiết yếu của sự hiểu biết về công việc dựa trên nền tảng Kinh Thánh. Làm việc không phải là đối lập với nghỉ ngơi, nhưng cả hai là các yếu tố tạo nên chu kỳ cuộc sống để có thể vừa làm việc tốt vừa được nghỉ ngơi đúng nghĩa. Trong điều kiện lý tưởng, sự nhịp nhàng của chu kỳ cuộc sống này phải đáp ứng nhu cầu chi dùng mà vẫn bảo đảm sức khỏe cho chúng ta. Nhưng trong thế giới sa ngã này, đôi khi điều đó không xảy ra.

CHÚA CỦA NGÀY SA-BÁT (LU 6:1-11)

Back to Table of Contents Back to Table of Contents

Phân đoạn Lu-ca 6:1-5 ghi lại câu chuyện xảy ra trong ngày Sa-bát, Chúa Giê-xu và các môn đồ của Ngài đói nên họ đã bứt bông lúa mì trên đồng, vò bông lúa trong tay và ăn những hạt gạo. Một số người Pha-ri-si phê phán cho rằng vò bông lúa tức là đập lúa, nghĩa là làm việc thu hoạch mùa màng trong ngày Sa-bát. Chúa Giê-xu đáp lại rằng vua Đa-vít và những người cùng đi với ông cũng phạm luật trong trường hợp tương tự. Khi họ bị đói, họ đã vào nhà Đức Chúa Trời và ăn bánh thánh, là bánh chỉ dành cho những thầy tế lễ. Chúng ta có thể thấy sự kết nối giữa hai câu chuyện này là tình trạng đói. Khi bạn bị đói thì việc bạn lao động để nuôi sống bản thân là điều được chấp nhận, ngay cả khi làm việc vào ngày Sabát. Nhưng Chúa Giê-xu đã đưa ra kết luận có phần khác một chút. “Con Người là Chúa của ngày Sa-bát” (Lu 6:5). Điều này ngụ ý rằng việc giữ ngày Sa-bát được đặt nền tảng trên sự hiểu biết Chúa, không phải là bày vẽ chi tiết, đặt thêm các nguyên tắc và trường hợp ngoại lệ.

TRẢ TỰ DO TRONG NGÀY SA-BÁT (LU 13:10-17)

Back to Table of Contents Back to Table of Contents

Trong Lu-ca 6:9 và 14:5 ghi lại hai lần Chúa Giê-xu chữa lành trong ngày Sabát. Dù sự giảng dạy của Chúa Giê-xu về ngày Sa-bát xuất phát từ nhu cầu của dân chúng, nhưng chúng ta khó có thể xây dựng thần học về ngày Sa-bát chỉ dựa trên các sự kiện này. Nhu cầu của con người phải được đặt ưu tiên hơn việc giữ ngày Sa-bát cho dù đó là một trong Mười Điều Răn. Khi nhu cầu của con người được đáp ứng trong ngày Sa-bát thì điều răn giữ ngày Sa-bát được làm trọn, chứ không bị hủy bỏ. Việc chữa lành cho người phụ nữ tàn tật trong ngày Sa-bát là ví dụ tiêu biểu cho điều này. Viên quản lý nhà hội lớn tiếng căm phẫn: “Có sáu ngày để làm việc, vậy hãy đến vào những ngày ấy để được chữa lành, đừng đến vào ngày Sabát” (Lu 13:14). Câu trả lời của Chúa Giê-xu bắt đầu bằng luật pháp. Nếu người ta còn cho súc vật của họ uống nước vào ngày Sa-bát thì “bà nầy là con gái của Ápra-ham, bị Sa-tan trói buộc đã mười tám năm, lại không nên mở trói cho bà trong ngày Sa-bát sao?” (Lu 13:16).[1]

LÀM ƠN CHO NGƯỜI GHÉT MÌNH (LU 6:27-36)

Back to Table of Contents Back to Table of Contents

Nơi làm việc nào cũng có xung đột, Chúa Giê-xu đề cập đến vấn đề này trong Lu-ca 6:27-36. “Hãy yêu kẻ thù mình, làm ơn cho kẻ ghét mình, chúc phước cho kẻ rủa sả mình, và cầu nguyện cho kẻ sỉ nhục mình” (Lu 6:27-28). Lu-ca cho biết rõ bối cảnh của sự dạy dỗ này là kinh doanh khi ông đề cập cụ thể đến việc cho vay tiền. “Hãy cho [kẻ thù của bạn] mượn mà đừng mong trả lại” (Lu 6:35). Dường như đây không phải là một lời khuyên thực tế trong việc cho vay, cần được hiểu theo ý nghĩa trừu tượng. Cơ Đốc Nhân không được dùng quyền lực để đàn áp nhưng ngược lại phải tích cực hành động vì ích lợi của những người đang có xung đột với mình. Điều này có thể áp dụng trong vấn đề xung đột tại công sở ở hai mức độ.

Áp dụng điều này ở mức độ cá nhân có nghĩa là chúng ta phải làm việc vì ích lợi của những người đang có xung đột với mình. Điều này không phải là tránh né xung đột hay từ bỏ cạnh tranh, ví dụ, nếu bạn và đồng nghiệp đang thi đua để được thăng chức, bạn phải giúp đỡ đồng nghiệp làm việc tốt trong khả năng của họ, đồng thời bạn vẫn phải cố gắng hoàn tất công việc của mình tốt hơn. Ở mức độ tập thể, áp dụng điều này có nghĩa là không triệt hạ đối thủ, nhà cung cấp hay khách hàng bằng những hành vi không công bằng như kiện tụng thiếu chứng cớ, kinh doanh độc quyền, tung tin đồn thất thiệt, thao túng giá cổ phiếu và những điều tương tự. Mỗi ngành nghề đều có điểm đặc trưng riêng nên không thể đưa ra một cách áp dụng cho tất cả mọi tình huống dựa trên phân đoạn Kinh Thánh tại đây. Vì thế, vai trò cần thiết của những người tin Chúa khi tham gia vào một ngành nghề đó là xác định quy tắc ứng xử thích hợp khi xảy ra xung đột và hình thức cạnh tranh chính đáng dựa trên sự dạy dỗ của Chúa Giê-xu.

QUỞ TRÁCH - ĂN NĂN - THA THỨ (LU 17:3-4)

Back to Table of Contents Back to Table of Contents

Trong phân đoạn Lu-ca 17:3-4, Chúa Giê-xu đề cập đến vấn đề xung đột cá nhân. “Nếu anh em con phạm tội, hãy quở trách! Nếu họ ăn năn, hãy tha thứ!” (Lu 17:3). Chúng ta không nên xem lời dạy này chỉ dành cho gia đình, vì Chúa Giê-xu áp dụng chữ “anh em” cho tất cả những người theo Ngài (Mác 3:35). Giải quyết xung đột bằng cách gặp mặt, nói chuyện trực tiếp và hướng đến phục hồi mối liên hệ là cách ứng xử tốt đẹp. Nhưng câu Kinh Thánh kế tiếp lại phá đổ những giới hạn của hiểu biết thông thường. “Dù trong một ngày, anh em con phạm lỗi với con bảy lần, và bảy lần trở lại cùng con mà nói: ‘Tôi ăn năn’ thì con cũng phải tha thứ.” (Lu 17:4). Trên thực tế, Chúa Giê-xu không chỉ yêu cầu phải tha thứ, mà còn đòi hỏi không được xét đoán. “Đừng xét đoán ai thì các con sẽ không bị xét đoán. Đừng lên án ai thì các con sẽ không bị lên án. Hãy tha thứ thì các con sẽ được tha thứ.” (Lu 6:37). “Sao con thấy cái dằm trong mắt anh em mà lại không thấy cây đà trong mắt mình?” (Lu 6:41).

Làm việc không nhận xét, đánh giá có phải là cách làm việc đúng, khôn ngoan? Làm sao có thể quản lý tốt công việc và hiệu suất làm việc mà lại không nhận xét, đánh giá? Có lẽ điều Chúa Giê-xu nói đến không phải là không có đánh giá phù hợp; nhưng là từ bỏ chủ nghĩa xét đoán, chỉ trích và kết tội, cùng với thái độ đạo đức giả cho rằng những vấn đề xảy ra hoàn toàn là lỗi của người khác. Có lẽ Chúa Giê-xu không có ý “hãy làm ngơ trước những sai phạm đạo đức cứ tái diễn hay việc làm thiếu trách nhiệm hoặc không đủ năng lực” nhưng “hãy tự xét những việc làm của mình đã góp phần tạo nên vấn đề này như thế nào.” Tương tự có lẽ Ngài không có ý “Đừng đánh giá năng lực hay công việc của người khác” nhưng là “Hãy xem thử chính mình có thể làm gì để giúp người khác thành công”. Có lẽ điểm chính Chúa Giê-xu muốn dạy không phải là chuyện khoan dung mà là lòng thương xót. “Các con muốn người ta làm cho mình thể nào, hãy làm cho người ta thể ấy” (Lu 6:31).

SỰ CHU CẤP CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI (LU 9:10-17; 12:4-7; 12: 22-31)

Back to Table of Contents Back to Table of Contents

Xuyên suốt sách Tin Lành Lu-ca, Chúa Giê-xu dạy sống trong nước Trời nghĩa là nhìn xem Chúa là khởi nguồn cung cấp mọi điều chúng ta cần. Việc làm, nỗ lực của con người là cần thiết nhưng không phải là tất cả. Việc làm của con người lúc nào cũng chỉ là sự dự phần trong ân điển và sự chu cấp của Đức Chúa Trời.

CHÚA GIÊ-XU NUÔI NĂM NGÀN NGƯỜI (LU 9:10-17)

Back to Table of Contents Back to Table of Contents

Lu-ca 9:10-7 ghi lại việc Đức Chúa Trời, qua thân vị Chúa Giê-xu, nhận lấy trách nhiệm cung cấp thực phẩm cho đám đông 5000 người. Ngài làm việc này vì họ đói. Tại đây không nói rõ cách Chúa Giê-xu thi hành phép lạ; nhờ quyền năng của Đức Chúa Trời, Chúa Giê-xu dùng một ít thức ăn thông thường là năm cái bánh và hai con cá để nuôi nhiều người. Một vài môn đồ của Chúa Giê-xu (những người đánh cá) từng làm trong lãnh vực cung cấp thực phẩm, những người khác (ví dụ: Lê-vi là người thu thuế) thì từng làm công chức. Khi Chúa Giê-xu giao cho các môn đồ công tác sắp xếp đám đông, rồi phân phát bánh và cá, Ngài giao cho các môn đồ những công việc họ quen thuộc. Chúa Giê-xu sử dụng chứ không thay thế các phương tiện cung cấp lương thực bình thường của con người và kết quả là một sự thành công diệu kỳ. Công việc của con người có khả năng đem đến điều tốt lành hoặc điều tai hại; nhưng khi chúng ta làm theo những gì Chúa Giê-xu chỉ dẫn, thì công việc của chúng ta là tốt lành. Chúng ta thường thấy trong sách Tin Lành Lu-ca, Đức Chúa Trời mang đến những kết quả kỳ diệu từ những công việc bình thường - trong trường hợp này là việc cung cấp thức ăn, một nhu cầu cần thiết trong đời sống.

CHÚA GIÊ-XU DẠY VỀ SỰ CHU CẤP CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI (LU 12:4-7; 12:22-31)

Back to Table of Contents Back to Table of Contents
XUA TAN LO LẮNG BẰNG CÁCH GIÚP NGƯỜI KHÁC THÀNH CÔNG

Joe Kreutz là người sáng lập, CEO và Chủ tịch của Ngân hàng Thương mại ở Quận Ventura, California. Joe đã xây dựng nhiều mối liên hệ trong nghề nghiệp. Khi những nhà đầu tư yêu cầu ông mở một ngân hàng mới, ông đã nhanh chóng liên hệ với những người đã làm việc với ông trong nhiều năm qua. Thay vì lo cho bản thân, ông tập trung vào việc giúp đỡ người khác thành công.

BÀI PHỎNG VẤN

JOE KREUTZ: Ngân hàng Thương mại Quận Ventura của chúng tôi là ngân hàng truyền thống. Chúng tôi là ngân hàng tập trung cung cấp dịch vụ cho doanh nghiệp vừa và nhỏ trong cộng đồng. Chúng tôi cung cấp tất cả các dịch vụ ngân hàng tiêu biểu như các ngân hàng lớn trong khu vực. Nhưng chúng tôi thường phục vụ cho các doanh nghiệp nhỏ và giúp họ đạt được mục tiêu của mình.

HATTIE: (thuyết minh) Joe Kreutz là người sáng lập, là CEO và Chủ tịch của Ngân hàng Thương mại Quận tại Ventura, California.

JOE: Tôi đã làm trong ngành ngân hàng khoảng 30 năm. Tôi là giám đốc của quỹ tiết kiệm và tín dụng trong thập niên 70 và 80. Sau đó tôi đã thành lập công ty tài chính, tín dụng hoạt động trong lĩnh vực địa ốc. Tôi đầu tư rất nhiều vốn vào ngân hàng này và cùng với đội ngũ quản lý, tôi đã có thể xây dựng loại hình ngân hàng mà chúng tôi muốn và phát triển theo đường hướng mà chúng tôi nhận định sẽ thành công.

Tôi và đội ngũ quản lý đã làm việc với nhau tại một ngân hàng khác. Chúng tôi nhận thấy có nhu cầu cần một ngân hàng cộng đồng ở Ventura. Lúc đó không có ngân hàng cộng đồng nào vì tất cả đã bị sáp nhập hay bị các ngân hàng lớn thu tóm vào những năm cuối thập niên 90. Chúng tôi đã quyết định cùng với nhau thành lập Ngân hàng
Thương mại Quận Ventura với khoảng 170 nhà đầu tư từ cộng đồng. Ngân hàng đã hoạt động rất tốt kể từ khi chúng tôi khai trương vào tháng Hai năm 2002.

Chúng tôi đã lên kế hoạch kinh doanh và nghĩ rằng sẽ mất hai năm rưỡi đến ba năm thì ngân hàng mới có lợi nhuận, nhưng chỉ sau chín tháng chúng tôi đã bắt đầu có lãi. Theo tiêu chuẩn của ngành ngân hàng, có lãi chỉ sau chín tháng hoạt động là rất sớm. Thường một ngân hàng phải hoạt động khoảng 30 tháng mới bắt đầu có lãi. Tìm nhà đầu tư là việc không mấy khó khăn. Trên thực tế, số vốn huy động từ các nhà đầu tư để thành lập ngân hàng còn vượt mức dự định của chúng tôi.

Sự khác biệt giữa ngân hàng lớn, ngân hàng khu vực và ngân hàng cộng đồng đó là chúng tôi có thể cung cấp nhiều sản phẩm và dịch vụ cho đa số các hộ kinh doanh và các công ty, doanh nghiệp nhỏ. Những khách hàng chúng tôi làm việc mỗi ngày là các doanh nghiệp đã từng gặp rắc rối khi giao dịch với những ngân hàng lớn hơn, hoặc là họ đã bị từ chối hoặc là có quá nhiều vấn đề nan giải, phiền phức. Một trong những điều tốt cho cộng đồng và cũng là điều tốt cho ngân hàng của chúng tôi đó là những người làm việc ở đây đều xuất thân ở vùng này. Hầu hết đội ngũ quản lý của chúng tôi đã lớn lên ở đây. Nhân viên cũng từ cộng đồng này. Chúng tôi hiểu cộng đồng và chúng tôi hiểu các công ty, doanh nghiệp địa phương. Vì thế chúng tôi có thể chấp nhận thêm những rủi ro mà những ngân hàng lớn khác không sẵn sàng, thậm chí có khi các ngân hàng lớn nhận định các doanh nghiệp địa phương là đầy rủi ro, còn chúng tôi thì không nghĩ vậy.

Chúng tôi biết những con người này, chúng tôi biết công ty, doanh nghiệp của họ và chúng tôi sẵn sàng làm việc với họ để cung cấp vốn mà họ cần để phát triển công việc kinh doanh.

HATTIE: (thuyết minh) Joe và Phó giám đốc Điều hành David Bruabker đang đi thăm khách hàng. Chúng tôi đang có mặt tại công ty Data Prose. Ban lãnh đạo rất phấn khởi vì công ty được nới rộng và có thể mua sắm thêm trang thiết bị mới nhờ khoản vay từ Ngân hàng Thương mại Quận Ventura.

JOE: Chúng tôi không thu lợi nhuận “khủng”. Chúng tôi cung cấp dịch vụ chất lượng cho cộng đồng. Chúng tôi thuê nhân viên từ cộng đồng và chúng tôi rất gắn bó với cộng đồng và chúng tôi cũng trao tặng lại cho cộng đồng rất nhiều tiền.

Là một ngân hàng nhỏ, tổng thu của chúng tôi chỉ được khoảng 3 triệu đô-la một năm và với khoản thu đó chúng tôi chi trả cho tất cả chi phí hoạt động và hy vọng có lời trả cổ tức cho những nhà đầu tư. Vì vậy tôi cho rằng ngân hàng của chúng tôi thuộc loại doanh nghiệp nhỏ giống như một cửa hàng thức ăn hay tiệm bán giày chứ không
phải là một doanh nghiệp lớn. Chúng tôi cũng phải tự cân đối nguồn lực giới hạn giống như những khách hàng của chúng tôi. Người ta nghĩ tài sản ngân hàng là 85 triệu đô-la. Điều đó không có nghĩa rằng chúng tôi có 85 triệu đô-la, nhưng có nghĩa rất nhiều người gửi tiền vào ngân hàng của chúng tôi. Chúng tôi vay số tiền đó rồi chúng tôi đi cho vay lại với hy vọng có thể kiếm được chút lợi nhuận.

Nếu chúng tôi có thể thu được 1% lợi nhuận từ khoản tiền gửi tức là công việc của chúng tôi đang thuận lợi. Chúng tôi thấy tiêu chuẩn đó chấp nhận được vì hầu hết các ngân hàng thu được 1% hoặc dưới 1% lợi nhuận từ tổng số vốn vay.

Chúng tôi biết khách hàng của mình, biết gia đình họ, chúng tôi hiểu công việc kinh doanh của họ. Họ là người mà bạn muốn được cùng làm việc. Đó là lý do chúng tôi gắn kết với cộng đồng, chúng tôi gắn kết với con người và khi đó cộng đồng cũng muốn gắn bó với chúng tôi.

Chúng tôi có 22 nhân viên, 50% trong số đó đã cùng làm việc với nhau trên 10 năm và 20% đã làm việc với nhau gần được 30 năm. Chúng tôi đã làm việc với nhau từ rất lâu và chuyện thay nhân viên của chúng
tôi là rất hiếm.

Thái độ là điều quan trọng. Ở bất cứ công ty, xí nghiệp nào, thái độ được hình thành từ trên xuống. Tôi cũng vậy. Tôi cũng thối chí khi mọi việc không theo đúng dự định, hay khi chúng tôi không đạt được những mục tiêu đã đề ra. Nhưng ngay lập tức tôi nhìn lại chính mình và nói “Mình cần phải thay đổi tình hình. Mình cần phải học từ những gì đang diễn ra rồi cố gắng tìm ra giải pháp.” Tôi nói với những nhân viên của mình rằng tôi đang học mỗi ngày…

Trong Lu-ca 12:22-31, Chúa Giê-xu dạy về sự chu cấp của Đức Chúa Trời. “Vậy nên, Ta bảo các con, đừng vì sự sống mà lo đồ ăn, cũng đừng vì thân thể mà lo đồ mặc… Hơn nữa, có ai trong các con nhờ lo lắng mà làm cho đời mình dài thêm một khoảnh khắc không? Vậy, nếu các con không thể làm được một việc nhỏ như thế, tại sao các con lại lo lắng về những việc khác?” (Lu 12:22, 26). Điều Chúa Giê-xu dạy có nghĩa “vì lo lắng không thể giúp chúng ta sống lâu hơn, nên lo lắng không ích lợi.” Chúa Giê-xu không dạy đừng làm việc, nhưng Ngài dạy đừng lo lắng việc làm của mình có đủ trang trải cho những nhu cầu cuộc sống hay không. Đây là lời khuyên tuyệt vời cho thời đại của sự thừa thãi. Nhiều người trong chúng ta bị chi phối bởi sự lo lắng đến nỗi cứ phải làm những công việc mình không thích, hay làm việc quá độ giờ này qua giờ khác mà chẳng có thời gian tận hưởng niềm vui cuộc sống và bỏ bê nhu cầu của những người xung quanh. Đối với chúng ta, mục tiêu không phải là kiếm “thêm” tiền nhưng là kiếm “đủ” tiền. “Đủ” được định nghĩa là khi chúng ta cảm thấy an tâm. Thế nhưng hiếm khi chúng ta có cảm giác an tâm, dù cho chúng ta kiếm được bao nhiêu tiền đi nữa. Thật ra, càng thành công, càng kiếm được nhiều tiền, thì chúng ta càng ít thấy an tâm vì bây giờ chúng ta có thêm thứ để mất. Dường như sẽ là tốt hơn khi chúng ta “được” phước như người nghèo, nghĩa là chỉ phải lo lắng về những điều thiết yếu của cuộc sống, “Phước cho các con là những người hiện đang đói, vì sẽ được no đủ” (Lu 6:21).

Chúa Giê-xu đã phá bỏ vòng lẩn quẩn này khi Ngài phán “nhưng hãy tìm kiếm vương quốc Đức Chúa Trời thì Ngài sẽ ban cho các con những điều ấy nữa.” (Lu 12:31). Vì sao? Bởi vì nếu bạn xác định mục tiêu tối hậu của tôi là cho nước Trời, hướng về nước Trời, thì bạn được đảm bảo chắc chắn rằng mục tiêu tối hậu của bạn sẽ được hoàn tất. Khi sống với sự đảm bảo này, bạn sẽ nhận ra tiền bạc mình kiếm được thật sự là đủ, vì Đức Chúa Trời đang chu cấp cho nhu cầu của tôi. Kiếm được một triệu đô-la rồi phải lo lắng sợ đánh mất thì cũng giống như đang mắc nợ một triệu đô-la; nhưng nếu chỉ kiếm được một ngàn đô-la và biết rằng mình được yên ổn thì giống như được cho một ngàn đô-la vậy.

Nhưng nếu bạn không có được một ngàn đô-la thì sao? Hiện tại có khoảng một phần ba dân số thế giới có mức sống hằng năm ít hơn một ngàn đô-la.[1] Dù đủ sống trong hôm nay, nhưng họ phải đối diện với nguy cơ thiếu đói hay nhiều điều tồi tệ hơn có thể xảy ra bất cứ lúc nào, dĩ nhiên trong số này có cả những Cơ Đốc Nhân. Thật khó để dung hòa thực tế của sự nghèo khổ và đói kém với lời hứa chu cấp của Đức Chúa Trời. Chúa Giê-xu biết điều này, Ngài biết có một số người rất nghèo nên Ngài đã phán: “Hãy bán gia tài ngươi mà phân phát cho kẻ nghèo” (Lu 12:33). Đó là lý do chúng ta phải ban cho, giúp đỡ người nghèo. Nếu những người tin Chúa sử dụng công việc và của cải mình có để giảm bớt và ngăn chặn sự nghèo khó, thì khi đó chúng ta sẽ trở thành phương tiện Đức Chúa Trời dùng để chu cấp cho những người nghèo. Nhưng không phải lúc nào các Cơ Đốc Nhân cũng làm như vậy, nên chúng ta cũng không thể nói thay cho những người vì nghèo khổ mà hồ nghi về sự chu cấp của Chúa dành cho họ. Thay vào đó, chúng ta hãy tự hỏi
chính mình có đang nghi ngờ về sự chu cấp của Chúa không? Nguyên nhân lo lắng của chúng ta có phải vì chúng ta đang thiếu thốn những điều thật sự cần thiết cho đời sống? Những thứ khiến chúng ta lo lắng có phải thật sự là những điều chúng ta cần? Những nhu cầu bản thân khiến chúng ta phải lo lắng có quá xa xỉ khi so sánh với những thứ mà những người khó khăn đang cần, mà chúng ta lại chẳng làm gì để giúp đỡ họ?

ẨN DỤ VỀ NGƯỜI QUẢN GIA BẤT TRUNG (LU 16:1-13)

Back to Table of Contents Back to Table of Contents

Bí quyết để đáp ứng mọi nhu cầu bản thân không phải là kiếm tiền hay tiết kiệm, nhưng là phục vụ và chi tiêu hợp lý. Nếu Đức Chúa Trời tin tưởng chúng ta sẽ sử dụng tiền bạc của mình để đáp ứng nhu cầu của người khác thì chính Ngài ban mọi điều chúng ta cần cho nhu cầu bản thân. Đây là điểm chính trong ẩn dụ về người quản gia bất trung. Trong câu chuyện này, người quản gia đã phung phí tài sản của chủ, dẫn đến hậu quả là ông (được thông báo) sẽ bị sa thải. Người quản gia đã dùng những ngày làm việc còn lại của mình để lừa gạt thêm ông chủ của mình, nhưng có một tình tiết khác lạ trong cách làm của người quản gia. Ông ta không cố ăn cắp của chủ. Có lẽ người quản gia biết mình không thể đem theo bất cứ thứ gì khi rời khỏi nhà ông chủ nên người quản gia đã giảm số nợ cho những người thiếu nợ ông chủ mình, với hy vọng rằng họ sẽ đền đáp và chu cấp khi ông bị thất nghiệp.

Giống như người quản gia bất trung, chúng ta không thể đem theo bất cứ thứ gì khi chúng ta rời khỏi cõi đời này. Thậm chí ngay trong đời này, những thứ chúng ta dành dụm cũng có thể bị lạm phát, thị trường sụp đổ, trộm cướp, tịch biên, kiện tụng, chiến tranh và thiên tai hủy phá. Vì thế, việc dành dụm tiền bạc không đem đến sự bảo đảm thật. Thay vào đó, chúng ta nên dùng tiền bạc của mình để giúp đỡ người khác, và ngược lại chúng ta nhờ người khác giúp đỡ khi cần. “Hãy dùng tiền của bất nghĩa mà kết bạn, để khi tiền của ấy hết đi, họ sẽ tiếp các con vào nhà đời đời” (Lu 16:9). Người đầy tớ bất trung đã tạo dựng mối liên hệ thân thiện bằng cách giúp đỡ những con nợ của ông chủ. Lừa gạt lẫn nhau rõ ràng không phải là cách xây dựng mối liên hệ tốt nhất, nhưng vẫn tốt hơn không xây dựng mối liên hệ nào. Xây dựng mối liên hệ là phương cách để gây dựng sự ổn định bền vững hiệu quả hơn việc tích trữ của cải. Từ “đời đời” có ý nghĩa các mối quan hệ tốt đẹp sẽ ích lợi khi chúng ta gặp khó khăn trong đời này, và các mối quan hệ ấy vẫn còn kéo dài đến sự sống đời đời.

Dễ thấy rõ nguyên tắc này trong bối cảnh khủng hoảng như chiến tranh, khủng bố hay khi cơ cấu kinh tế của xã hội bị hủy phá. Trong trại tị nạn, nhà tù hay trong một nền kinh tế lạm phát, tài sản trước đây bạn có không đem lại ích lợi gì dẫu chỉ để sở hữu một mẩu bánh mì. Nhưng nếu bạn đã dùng tài sản để giúp đỡ cho những người khác, thì bạn có thể được những người đó giúp lại lúc bạn gặp khó khăn. Lưu ý những người được người quản gia bất trung này giúp không giàu có. Họ là những người mắc nợ. Người quản gia không dựa vào sự giàu có của những người này nhưng dựa vào mối liên hệ nương tựa lẫn nhau mà ông đã tạo dựng với họ.

Tuy nhiên, Chúa Giê-xu không nói hãy dựa vào thứ tình cảm hay thay đổi của những người mà bạn đã giúp đỡ trong quá khứ. Câu chuyện nhanh chóng chuyển từ những người mắc nợ sang người chủ trong câu chuyện (Lu 16:8) và Chúa Giêxu tán đồng lời kết luận của người chủ: “Ai trung tín trong việc rất nhỏ cũng trung tín trong việc lớn, ai bất nghĩa trong việc rất nhỏ cũng bất nghĩa trong việc lớn.” (Lu 16:10). Chi tiết này ám chỉ Đức Chúa Trời là Đấng đảm bảo rằng sử dụng tiền cho việc xây dựng mối liên hệ sẽ đem lại sự ổn định vững bền. Chúa Giê-xu không nói giữa lòng rộng rãi với người nghèo và những mối liên hệ tốt đẹp với người khác điều nào quan trọng hơn, có lẽ cả hai. Khi bạn xây dựng mối liên hệ tốt đẹp với những người khác, thì bạn có được mối liên hệ tốt đẹp với Đức Chúa Trời, và ngược lại. “Vậy nếu các con không trung tín về của cải bất nghĩa, ai sẽ đem của cải thật giao cho các con?” (Lu 16:11). Mối quan hệ tốt đẹp với người khác dựa trên nền tảng chúng ta đều là con cái của Đức Chúa Trời mới chính là sự giàu có thật; còn mối liên hệ đúng đắn với Chúa được bày tỏ qua sự rộng rãi đối với người nghèo. Những mối liên hệ tốt đẹp sẽ sản sinh ra kết quả tốt đẹp và thêm cho chúng ta năng lực để tạo dựng thêm các mối liên hệ tốt đẹp mới và càng sống bày tỏ lòng rộng rãi với những người khác nhiều hơn. Nếu Chúa có thể tin tưởng rằng bạn sẽ rộng rãi với một ít tiền và sử dụng nó để xây dựng mối liên hệ, thì Ngài sẽ giao phó cho bạn nhiều hơn.

Điều này cho thấy nếu bạn mất sự bình an vì không thể dành dụm đủ như ý muốn, thì giải pháp là đừng cố gắng dành dụm thêm. Nhưng hãy sử dụng số tiền ít ỏi bạn có cách rộng rãi, giúp đỡ người khác. Đối xử với người khác bằng lòng rộng rãi và sự giúp đỡ sẽ mang đến cho bạn nhiều đảm bảo hơn là dành dụm tiền bạc. Dĩ nhiên, điều này cần được thực hiện một cách khôn khéo, bằng những cách thật sự đem đến ích lợi cho người khác chứ không chỉ đơn thuần để trấn an lương tâm của bạn hay để lấy lòng những người mà bạn mong sẽ “trả ơn” và giúp đỡ bạn trong tương lai. Trong bất cứ trường hợp nào, sự bảo đảm tối hậu của bạn là lòng rộng rãi và sự tiếp trợ từ Đức Chúa Trời.

NHỮNG SỰ NHẮC NHỞ TỪ CÂU CHUYỆN ĐỨA CON TRAI HOANG ĐÀNG (LU 15:11-32)

Back to Table of Contents Back to Table of Contents

Đây là lời khuyên tài chính có lẽ khiến nhiều người kinh ngạc: Đừng tích trữ, nhưng hãy dùng những gì bạn có để khiến mình được gần với người khác. Trong câu chuyện người con trai hoang đàng (Lu 15:11-32), người em đã phung phí toàn bộ gia tài của mình, trong khi người anh lại lo tiết kiệm đến mức không dám tiếp đãi những người bạn thân (Lu 16:29). Sự hoang phí của người em đưa đến sự phá sản. Nhưng sự hoang phí của cải của người em đã đưa anh trở lại với cha mình trong sự phụ thuộc hoàn toàn. Niềm vui khôn xiết của người cha khi đứa con hư hỏng trở về đã gội rửa tất cả những sự đau buồn trước đó khi anh ta phung phí một nửa gia tài của cha. Ngược lại, việc người anh khư khư giữ lấy phần tài sản của mình đã kéo anh ta rời xa mối liên hệ gần gũi với cha.

Trong cả hai câu chuyện người quản gia bất trung và người con trai hoang đàng, Chúa Giê-xu không nói sự giàu có là xấu. Nhưng Ngài dạy cách sử dụng của cải đúng đắn là cho mục đích của Đức Chúa Trời, nếu không thì dùng nó cho những thứ khiến chúng ta phụ thuộc vào Chúa nhiều hơn.

SỰ GIÀU CÓ TRONG SÁCH LU-CA

Back to Table of Contents Back to Table of Contents

Chúa Giê-xu không hề chống đối sự giàu có, nhưng Ngài dạy về sự giàu có với sự nghi ngại. Kinh tế thị trường dựa trên sự phát sinh, trao đổi và tích lũy tài sản cá nhân. Thực tế này gắn chặt trong nhiều nền văn hóa xã hội đến nỗi đối với nhiều người, việc mưu cầu và tích lũy tài sản cá nhân, đã trở thành mục đích tối hậu hay ý nghĩa của đời sống. Trong các phần chú giải trước đã trình bày Chúa Giê-xu không xem việc tích lũy tài sản là mục tiêu đúng đắn. Từ gương mẫu đời sống của Chúa Giê-xu, công việc của con người phải thể hiện sự quan tâm sâu sắc dành cho người khác cũng như không được sử dụng thẩm quyền trong công việc chỉ vì lợi ích cá nhân. Tương tự như vậy sự giàu có phải được sử dụng với sự quan tâm sâu sắc dành cho người lân cận. Dù sách Tin Lành Lu-ca không đề cập nhiều về sự giàu có như sách Công vụ Các Sứ đồ, nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức quan trọng với những giả định của nhiều người về sự giàu có.

SỰ LO NGẠI DÀNH CHO NGƯỜI GIÀU (LU 6:25; 12:13-21; 18:18-30)

Back to Table of Contents Back to Table of Contents

Chúa Giê-xu chỉ ra vấn đề đầu tiên của sự giàu có là những người giàu vì lòng đam mê của cải dễ có khuynh hướng loại bỏ Chúa ra khỏi đời sống. “Vì của cải các con ở đâu, thì lòng các con cũng ở đó” (Lu 12:34). Chúa Giê-xu muốn con người hiểu rằng giá trị cuộc sống không được định nghĩa dựa trên của cải, nhưng bằng tình yêu và sự kêu gọi của Đức Chúa Trời. Lu-ca mong muốn khi chúng ta được gặp gỡ Chúa Giê-xu thì chúng ta, và công việc chúng ta làm, cũng được biến đổi.

Nhưng sự giàu có dường như khiến chúng ta ngoan cố chống cự bất kỳ sự thay đổi nào trong đời sống. Sự giàu có cho chúng ta có đủ phương tiện để duy trì nguyên trạng, để tự lập, để làm mọi thứ theo cách riêng của mình. Sự sống đời đời hay sự sống thật là sống trong mối liên hệ với Đức Chúa Trời (và với người khác).

Sự giàu có khiến chúng ta khước từ Đức Chúa Trời và dẫn đến sự chết đời đời. Chúa Giê-xu phán: “Nếu người nào được cả thế gian mà chính mình bị mất hoặc thiệt thân thì có ích gì?” (Lu 9:25). Của cải có thể dẫn dụ khiến người giàu sống xa cách Chúa, là số phận mà người nghèo (có thể) tránh khỏi. “Phước cho các con là những người nghèo khó, vì vương quốc Đức Chúa Trời thuộc về các con” (Lu 6:20). Đây không phải là lời hứa về phần thưởng trong tương lai, nhưng là lời tuyên bố cho hiện tại. Người nghèo không bị của cải cản trở lòng yêu mến Đức Chúa Trời. Nhưng “Khốn cho các ngươi là những người hiện đang no, vì sẽ đói! ” (Lu 6:25). “Đói” dường như là cách nói giảm nhưng có hàm ý rất rõ ràng chỉ về việc “đánh mất sự sống đời đời vì không còn quan tâm đến Chúa”. Tuy vậy, có lẽ vẫn còn hy vọng ngay cả cho những người giàu có xấu xa.

Câu Chuyện Ẩn Dụ Về Người Giàu Dại Dột (Lu 12:13-21)

Back to Table of Contents Back to Table of Contents

Sự dạy dỗ về chủ đề của cải được tiếp nối cách kịch tính với câu chuyện ẩn dụ về người giàu dại dột (Lu 12:13-21). “Ruộng của người giàu kia rất được mùa”, nhiều đến nỗi không thể chứa hết trong kho. “Ta sẽ làm gì?” ông ta lo lắng và quyết định phá bỏ kho hiện có để xây kho lớn hơn. Người giàu này thuộc về số người tin rằng càng có nhiều của cải thì càng bớt lo về tiền bạc. Nhưng trước khi ông phát hiện mình đã phải lo lắng vì thứ không thật sự có giá trị, thì người giàu này đối diện với số phận còn bi thảm hơn là cái chết. Khi người giàu sắp chết, câu hỏi của Chúa: “Những thứ mà người đã dự trữ sẽ thuộc về ai?” (Lu 12:20) có ý mỉa mai và đụng đến hai điểm cốt lõi. Thứ nhất là câu trả lời cho của cải: sẽ không thuộc về người giàu. Số của cải người giàu này trông cậy để đáp ứng nhu cầu của ông trong nhiều năm nữa sẽ lập tức được chuyển cho người khác. Điều thứ hai còn thâm sâu hơn là câu trả lời cho linh hồn: sẽ bị đòi lại. Người giàu có ngu dại sẽ nhận được những gì ông đã chuẩn bị cho bản thân: một cuộc sống không có Chúa sau khi qua đời, một cái chết thật sự. Sự giàu có đã ngăn trở ông xây dựng mối liên hệ với Chúa, được thể hiện bằng việc ông chẳng hề mảy may suy nghĩ sẽ dùng vụ mùa bội thu của mình để giúp đỡ những người có nhu cầu. “Ai thu trữ của cải cho mình mà không giàu có nơi Đức Chúa Trời thì cũng như vậy” (Lu 12:21).

Tại đây, tình bạn với Đức Chúa Trời được diễn tả bằng ngôn ngữ kinh tế. Những người được làm bạn với Đức Chúa Trời và có của cải phải là những người giúp đỡ cho những người cũng là bạn hữu của Chúa và đang nghèo khổ. Vấn đề của người giàu dại dột là ông ta tích trữ mọi thứ cho mình, mà không tạo công ăn, việc làm hay cơ hội sinh sống cho người khác. Chúng ta có thể tưởng tượng một người giàu có yêu mến Chúa thật sự mà không tích trữ của cải cho mình sẽ ban cho cách rộng rãi, giúp người nghèo khổ, hay tốt hơn là đầu tư tiền bạc để sản xuất những sản phẩm và cung cấp những dịch vụ thật tốt, thuê mướn nhân viên, tạo việc làm và đối xử với những người làm việc cho mình bằng sự công bằng và lương thiện. Chúng ta có thể tìm thấy nhiều người như vậy trong Kinh Thánh (ví dụ: Giô-sép người A-ri-ma-thê, Lu 23:50) và trong thế giới quanh ta. Những người như thế sẽ được phước cả trong đời này lẫn đời sau. Nhưng chúng ta không thể
loại bỏ điểm mấu chốt của ẩn dụ này: nếu con người có thể tích trữ của cải bởi sự tham lam thì cũng có thể tăng trưởng về mặt kinh tế và các phương diện khác trong đời sống nhờ ân sủng của Chúa. Sau hết tất cả, chính Chúa sẽ phán xét việc làm của mỗi người.

Vị Quan Giàu Có (Lu 18:18-30)

Back to Table of Contents Back to Table of Contents

Cuộc gặp gỡ giữa Chúa Giê-xu với vị quan giàu có (Lu 18:18-30) cho thấy cơ hội được giải cứu khỏi vòng kìm kẹp của vật chất. Vị quan này đã không để sự giàu có của mình hoàn toàn thay thế tấm lòng khao khát Chúa. Ông bắt đầu với câu hỏi: “Thưa Thầy nhân lành, tôi phải làm gì để được hưởng sự sống đời đời?” Trong câu trả lời, Chúa Giê-xu tóm tắt Mười Điều Răn. Vị quan giàu có trả lời rằng “Tôi đã giữ các điều ấy từ thời niên thiếu” (Lu 18:21). Chúa Giê-xu đã chấp nhận câu trả lời của vị quan nhưng Ngài nhìn thấy ảnh hưởng sai lạc của sự giàu có trên ông. Chúa Giê-xu cho vị quan một cách để chấm dứt ảnh hưởng nguy hại của sự giàu có. “Hãy bán tất cả những gì ngươi có và phân phát cho người nghèo thì ngươi sẽ có kho báu ở trên trời, rồi hãy đến theo Ta” (Lu 18:22). Bất cứ ai thật sự có lòng khao khát tìm kiếm Chúa đều sẽ vui mừng sung sướng trước lời mời gọi bước vào mối liên hệ cá nhân mật thiết với Con Đức Chúa Trời. Nhưng thật quá muộn màng cho vị quan giàu có này, lòng yêu mến của cải của ông lớn hơn tình yêu ông dành cho Đức Chúa Trời. “Ông ta trở nên buồn rầu, vì ông rất giàu có” (Lu 18:23). Chúa Giê-xu nhận ra điều đó và phán rằng “Người giàu vào vương quốc Đức Chúa Trời thật khó biết bao! Vì lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu vào vương quốc Đức Chúa Trời!” (Lu 18:24-25).

Ngược lại, người nghèo thường bày tỏ sự rộng rãi lạ lùng. Bà góa nghèo sẵn sàng cho đi tất cả những gì bà có vì yêu Chúa (Lu 21:1-4). Đây không phải là tóm tắt sự đoán phạt của Chúa dành cho những người giàu nhưng là một nhận xét dựa trên quan sát về sức cuốn hút và sự kìm kẹp của của cải. Trong câu chuyện này, những người xung quanh Chúa Giê-xu và vị quan giàu có cũng đều nhận ra vấn đề và thất vọng với thắc mắc có ai đủ sức chống lại sự hấp dẫn của của cải, dù chính họ (các môn đồ) đã bỏ tất cả để theo Chúa Giê-xu (Lu 18:28). Nhưng Chúa Giêxu không hề bi quan, vì “điều loài người không làm được thì Đức Chúa Trời làm được” (Lu 18:27). Chính Đức Chúa Trời là nguồn sức lực để giúp con người khao khát yêu mến Đức Chúa Trời hơn của cải.

Có lẽ ảnh hưởng nguy hại của của cải là ngăn trở chúng ta mong ước một tương lai tốt hơn. Nếu bạn giàu có, mọi thứ đều tốt đẹp, khi đó sự thay đổi trở thành mối đe dọa chứ không phải cơ hội. Trong trường hợp của vị quan giàu có, của cải đã khiến ông mờ mắt, không nhận biết cuộc đời có Chúa tuyệt vời không chi sánh bằng. Chúa Giê-xu ban cho vị quan giàu có này ý nghĩa mới về giá trị bản thân và sự an ổn. Nếu ông ta có thể mường tượng ý nghĩa, giá trị mới Chúa ban vượt trổi hơn sự mất mát của cải, thì có lẽ vị quan đã chấp nhận lời mời gọi của Chúa Giê-xu. Đỉnh điểm của câu chuyện là lúc các môn đồ của Chúa Giê-xu đề cập đến những gì họ đã từ bỏ để theo Ngài thì Chúa Giê-xu hứa rằng họ sẽ được giàu có dư dật trong nước Trời. Chúa Giê-xu phán, ngay cả trong đời này, họ sẽ được “nhận lãnh nhiều hơn” cả về những mối liên hệ lẫn vật chất, và trong đời sau sẽ được sự sống đời đời (Lu 18:29-30). Đây là cơ hội mà mà vị quan giàu có để mất. Ông ta chỉ thấy những thứ mình phải từ bỏ, chứ không thấy những điều mình sẽ nhận được.[1]

QUAN TÂM ĐẾN NGƯỜI NGHÈO (LU 6:17-26; 16:19-31)

Back to Table of Contents Back to Table of Contents
ĐẦU TƯ VÀO CỘNG ĐỒNG CỦA BẠN

Arnold Joseff và cộng sự của ông, George Hill, là những người sáng lập ra Công ty Công nghệ Hóa học Tổng Hợp có trụ sở ở Detroit, Michigan. Arnold nói về chiến lược sử dụng lợi nhuận của họ để khôi phục, xây dựng lại một khu dân cư nghèo.

BÀI PHỎNG VẤN

HATTIE: Ở đây ồn ào quá. Tôi thấy giám đốc chăm sóc khách hàng, Julius Gray, đã đến văn phòng.

JULIUS: Đừng bao giờ nói không! Đừng bao giờ! Đừng bao giờ bỏ cuộc!

HATTIE: Có phải mẹ ông đã dạy như vậy?

JULIUS: Sự kiên trì sẽ được đền đáp. Mẹ tôi đã dạy tôi; cha tôi đã học từ nhiều nơi. Bạn không cần phải trải nghiệm thực tế cuộc sống thì mới có thể học từ kinh nghiệm của người khác. Đó là mấu chốt. Hãy nắm bắt kinh nghiệm của người khác và áp dụng khi thích hợp.

HATTIE: Giống như Julius, Arnold đang chạy đôn chạy đáo. Không có văn phòng, nên ông có thể làm việc ở mọi lúc, mọi nơi.

ARNOLD: Mặc dù bạn là một nhà kinh doanh, công việc bạn làm phải sinh lợi nhuận, nhưng điều đó không thể chối bỏ nguyên tắc là bạn phải có những giá trị đạo đức. Bạn vẫn có thể vừa là người đạo đức chính trực, vừa khao khát đổi mới và là người đem lại nguồn sinh khí mới cho một khu vực nào đó. Điều chúng tôi đã làm một cách kiên định đó là tiếp quản, theo nghĩa đen, những bất động sản bị bỏ hoang và khôi phục lại để sử dụng.

Chúng tôi không bán, nhưng tiếp tục sử dụng những bất động sản đã được khôi phục đó. Chúng trở thành một phương pháp làm kinh tế, giúp lập công ty, xí nghiệp, tạo nên việc làm, phát triển kỹ thuật và tạo nên sự tăng rưởng cho cộng đồng. Đó là bản sắc của công ty chúng tôi và những điều chúng tôi muốn làm và chia sẻ với người khác. Bởi vì, nếu chúng tôi có thể làm điều đó trong giới hạn nhỏ của mình, thì người khác có thể làm ở mức độ lớn hơn.

Khi Chúa Giê-xu đề cập đến vấn đề của cải gây ra, Ngài không chỉ quan tâm đến người giàu nhưng Chúa Giê-xu cũng quan tâm đến người nghèo khổ. Ngài phán: “Hãy bán của cải mình mà làm việc thiện. Hãy sắm cho mình những túi tiền không hư cũ và kho báu không hao hụt ở trên trời, nơi kẻ trộm không đến gần được, mối mọt không làm hư hại được” (Lu 12:33).

Xuyên suốt sách Tin Lành Lu-ca, đặc biệt trong Bài ca của Ma-ri (Lu 1:46-56), trong Bài giảng của Chúa Giê-xu (Lu 6:17-26), chủ đề Đức Chúa Trời rất quan tâm đối với người nghèo khó và cô thế trong xã hội thường xuyên được đề cập. Chúa Giê-xu đưa đề tài này thành trọng tâm trong trong câu chuyện ẩn dụ về La-xa-rơ và người nhà giàu (Lu 16:19-31). Người giàu có mặc quần áo sang trọng và sống xa xỉ, không làm gì để giúp đỡ La-xa-rơ, là người đang chết dần vì bệnh tật và đói khát. La-xa-rơ chết và người giàu cũng chết. Điều này nhắc nhở chúng ta rằng đến điểm cuối của
sự sống thì của cải cũng không hề có quyền lực gì. Các thiên sứ đem La-xarơ lên thiên đàng, có lẽ
chỉ vì ông là người nghèo, không có lý do nào khác (Lu 16:22), nếu không thì có lẽ vì trong lòng La-xarơ, của cải chưa bao giờ thay thế cho Đức Chúa Trời. Người giàu xuống âm phủ, dường như vì ông giàu có, cũng không còn lý do nào khác (Lu 16:23), nếu không thì có lẽ vì trong lòng người giàu, của cải đã chiếm chỗ dành cho Đức Chúa Trời và người khác. Câu chuyện có ngụ ý trách nhiệm của người giàu là phải chăm sóc, giúp đỡ La-xa-rơ khi có thể (Lu 16:25). Có lẽ khi làm như thế, người giàu có thể tái lập cho mình mối liên hệ đúng đắn với Đức Chúa Trời và tránh khỏi kết cục bi thảm. Hơn nữa, giống như nhiều người giàu có, ông ta lo lắng cho gia đình mình, muốn cảnh báo họ về sự đoán phạt sắp đến. Tuy nhiên, người giàu đã thiếu quan tâm đến gia đình lớn hơn của Đức Chúa Trời như đã bày tỏ trong luật pháp và lời tiên tri, và ngay cả người trở về từ cõi chết cũng không thể thay đổi điều gì.